Cha mẹ mất không để lại di chúc: Con trưởng, người chăm sóc hay tất cả các con đều được chia tài sản?

Ngày đăng: 27/07/2026
Luật Sư Khánh Hòa

Không có di chúc thì tài sản được chia theo pháp luật

Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định.

Theo điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp người chết không để lại di chúc thì di sản được chia theo pháp luật.

Như vậy, khi cha mẹ qua đời mà không lập di chúc, các thành viên trong gia đình không thể tự quyết định rằng ai đang ở trong nhà, ai giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc ai là con trưởng thì người đó được nhận toàn bộ tài sản.

Việc phân chia phải căn cứ vào người thuộc hàng thừa kế và phần di sản thực tế mà người đã mất để lại.

Trước khi chia thừa kế phải xác định đúng di sản

Một trong những sai lầm phổ biến nhất là cứ thấy căn nhà đứng tên cha hoặc mẹ thì cho rằng toàn bộ căn nhà là di sản thừa kế.

Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm:

  • Tài sản riêng của người chết;
  • Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.

Do đó, trước khi chia thừa kế phải xác định tài sản đó là tài sản riêng hay tài sản chung.

Ví dụ, cha mẹ có một căn nhà trị giá 8 tỷ đồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Người cha qua đời, không để lại di chúc. Trong trường hợp thông thường, trước hết phải xác định phần tài sản của người mẹ trong khối tài sản chung. Giả sử mỗi người có quyền sở hữu một nửa thì:

  • Phần của người mẹ là 4 tỷ đồng, không phải di sản của người cha;
  • Phần 4 tỷ đồng thuộc người cha mới được xác định là di sản để chia thừa kế.

Nếu lấy toàn bộ căn nhà 8 tỷ đồng chia thừa kế ngay thì sẽ xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người mẹ.

Ngoài ra, nghĩa vụ tài sản của người chết, chi phí mai táng và các khoản phải thanh toán khác cũng cần được xem xét trước khi phân chia phần di sản còn lại. Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại.

Ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất?

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm:

  • Vợ hoặc chồng của người chết;
  • Cha đẻ, mẹ đẻ của người chết;
  • Cha nuôi, mẹ nuôi của người chết;
  • Con đẻ, con nuôi của người chết.

Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, nếu người cha mất thì người vợ, cha mẹ của người cha nếu còn sống và các con của người cha đều có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Con trai và con gái có quyền thừa kế ngang nhau. Con đã lập gia đình, đã ra ở riêng hoặc đang sinh sống ở nước ngoài không vì những lý do đó mà mất quyền hưởng di sản.

Con nuôi hợp pháp cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và về nguyên tắc có quyền hưởng phần di sản ngang với con đẻ.

Ví dụ thực tế về cách chia tài sản: Ông A và bà B có ba người con là C, D và E. Cha mẹ của ông A đều đã qua đời. Ông A mất mà không để lại di chúc. Tài sản chung của vợ chồng ông A, bà B là một căn nhà trị giá 8 tỷ đồng. Giả sử không có tranh chấp về nguồn gốc tài sản và mỗi người có một nửa quyền sở hữu.

Trước hết, xác định:

  • Bà B sở hữu 4 tỷ đồng trong tài sản chung;
  • Phần 4 tỷ đồng của ông A là di sản thừa kế.

Hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm bà B và ba người con C, D, E, tổng cộng bốn người.

Nếu không có người từ chối nhận di sản, không có người bị loại khỏi quyền hưởng thừa kế và các bên không có thỏa thuận khác thì 4 tỷ đồng được chia đều:

  • Bà B hưởng 1 tỷ đồng từ di sản;
  • Người con C hưởng 1 tỷ đồng;
  • Người con D hưởng 1 tỷ đồng;
  • Người con E hưởng 1 tỷ đồng.

Sau khi chia, tổng quyền lợi của bà B đối với căn nhà gồm 4 tỷ đồng thuộc sở hữu của bà trong tài sản chung và 1 tỷ đồng được hưởng thừa kế, tương đương 5 tỷ đồng.

Con trưởng có được hưởng nhiều hơn không?

Pháp luật hiện hành không quy định con trưởng đương nhiên được hưởng phần di sản nhiều hơn các con khác.

Việc người con trưởng đảm nhiệm thờ cúng tổ tiên hoặc đang quản lý nhà đất không làm phát sinh quyền sở hữu toàn bộ di sản. Nếu cha mẹ muốn giao riêng tài sản dùng vào việc thờ cúng thì nội dung này nên được thể hiện rõ trong một di chúc hợp pháp.

Trong trường hợp không có di chúc, người con trưởng vẫn hưởng thừa kế như những người con khác cùng hàng.

Người chăm sóc cha mẹ có được nhận nhiều hơn không?

Việc một người con trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ là tình tiết rất đáng được gia đình ghi nhận. Tuy nhiên, người chăm sóc cha mẹ không đương nhiên được hưởng toàn bộ di sản hoặc một phần lớn hơn chỉ dựa trên lý do đó.

Nếu người này đã bỏ tiền để sửa chữa nhà, trả nợ, đóng thuế, xây dựng công trình hoặc có đóng góp cụ thể vào việc hình thành, duy trì và làm tăng giá trị tài sản thì có quyền yêu cầu xem xét công sức đóng góp. Tuy nhiên, phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Gia đình cũng có thể tự nguyện thỏa thuận để người có công chăm sóc cha mẹ được nhận phần tài sản nhiều hơn. Sự thỏa thuận này phải có sự đồng ý của những người thừa kế có quyền lợi liên quan và nên được lập thành văn bản, công chứng hoặc chứng thực theo quy định nếu liên quan đến nhà đất.

Con dâu, con rể có được hưởng thừa kế không?

Con dâu và con rể không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ.

Do đó, nếu cha mẹ chồng mất mà không để lại di chúc thì con dâu không trực tiếp được hưởng di sản với tư cách người thừa kế theo pháp luật. Tương tự, con rể không trực tiếp thuộc hàng thừa kế của cha mẹ vợ.

Tuy nhiên, nếu người con của người để lại di sản đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha mẹ thì các cháu có thể được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, con dâu hoặc con rể vẫn có thể được hưởng tài sản nếu được chỉ định trong một di chúc hợp pháp.

Ai đang giữ nhà hoặc giữ sổ đỏ có được sở hữu luôn không?

Người đang ở trong nhà, quản lý tài sản hoặc giữ bản chính giấy chứng nhận không vì thế mà mặc nhiên trở thành chủ sở hữu.

Giấy chứng nhận đứng tên người đã mất vẫn là căn cứ để xác định di sản. Những người thừa kế có quyền yêu cầu kê khai, phân chia và thực hiện thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.

Nếu một người tự ý chiếm giữ toàn bộ tài sản, không cung cấp giấy tờ hoặc ngăn cản những người thừa kế khác thực hiện quyền của mình, các đồng thừa kế có thể yêu cầu hòa giải, đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án.

Trường hợp nào một người không được hưởng di sản?

Không phải người nào thuộc hàng thừa kế cũng chắc chắn được hưởng di sản.

Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp không được quyền hưởng di sản, chẳng hạn người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản việc lập di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí của người để lại tài sản.

Ngoài ra, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản theo Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng việc từ chối không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bao lâu?

Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là:

  • 30 năm đối với bất động sản;
  • 10 năm đối với động sản;

Thời hạn được tính từ thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người có tài sản chết.

Vì vậy, khi phát sinh vấn đề thừa kế, các thành viên trong gia đình không nên để vụ việc kéo dài quá lâu. Việc chậm giải quyết có thể làm thất lạc giấy tờ, khó xác định nguồn gốc tài sản, phát sinh người thừa kế mới hoặc làm quan hệ gia đình trở nên căng thẳng hơn.

Làm gì để hạn chế tranh chấp thừa kế?

Để hạn chế tranh chấp, cha mẹ nên chủ động lập di chúc khi còn minh mẫn, sáng suốt. Di chúc cần xác định rõ tài sản, người được hưởng, tỷ lệ được hưởng và người quản lý di sản.

Trường hợp cha mẹ đã mất mà không có di chúc, các đồng thừa kế nên:

  1. Xác định đầy đủ tài sản và nghĩa vụ của người chết;
  2. Xác định chính xác những người thuộc hàng thừa kế;
  3. Kiểm tra có người thừa kế chết trước, từ chối nhận hoặc không có quyền hưởng di sản hay không;
  4. Thỏa thuận cách phân chia bằng văn bản;
  5. Công chứng văn bản khai nhận hoặc phân chia di sản nếu pháp luật yêu cầu;
  6. Thực hiện thủ tục đăng ký sang tên đối với nhà đất và tài sản phải đăng ký.

Điều quan trọng nhất là không nên tự ý bán, chuyển nhượng, thế chấp hoặc chiếm giữ tài sản khi chưa có sự thống nhất của những người có quyền thừa kế.

Kết luận

Khi cha mẹ mất không để lại di chúc, tài sản không mặc nhiên thuộc về con trưởng, người trực tiếp chăm sóc cha mẹ, người đang ở trong nhà hoặc người đang giữ giấy tờ.

Di sản phải được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế. Trước khi chia, cần xác định chính xác đâu là tài sản riêng của người đã mất, đâu là phần tài sản của họ trong khối tài sản chung, nghĩa vụ nào phải thanh toán và ai thực sự có quyền hưởng di sản.

Việc hiểu đúng quy định pháp luật không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi người mà còn góp phần tránh để tài sản trở thành nguyên nhân làm rạn nứt tình cảm gia đình.

LUẬT SƯ TƯ VẤN THỪA KẾ, DI CHÚC TẠI NHA TRANG – KHÁNH HÒA

CÔNG TY LUẬT TNHH VŨ & ĐỒNG NGHIỆP

Dịch vụ pháp lý:

  • Tư vấn lập, sửa đổi, hủy bỏ và công chứng di chúc;
  • Tư vấn xác định di sản và hàng thừa kế;
  • Hỗ trợ khai nhận, thỏa thuận phân chia di sản;
  • Giải quyết tranh chấp nhà đất thừa kế;
  • Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án.

Địa chỉ: Số 16 Mạc Đĩnh Chi, phường Phước Tiến, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Email: LawyerVuNhuHao@gmail.com
Website: https://luatsukhanhhoa.com/

Hiểu đúng pháp luật về thừa kế – để tài sản không làm mất tình thân.

Chia sẻ bài viết