Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn?
Câu hỏi:
Luật sư tư vấn giúp tôi câu hỏi sau: Tôi muốn ly hôn với chồng tôi nhưng hiện nay tôi đang sinh sống tại Nha Trang, Khánh Hòa còn chồng tôi đang cư trú và làm việc lại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Tài sản của vợ chồng chúng tôi là nhà đất đều ở Nha Trang - Khánh Hòa. Tôi đã nhiều lần đề nghị chồng ký đơn ly hôn nhưng chồng tôi không đồng ý. Tôi nhận thấy hôn nhân của tôi không hạnh phúc nên đã quyết định nộp đơn lên tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xin ly hôn và chia tài sản nhưng Tòa án Nha Trang trả lời thẩm quyền giải quyết phải là tòa án Pleiku nhưng tôi cho rằng Tòa án Pleiku nếu giải quyết sẽ không hợp lý vì tài sản của chúng tôi đều ở Nha Trang. Luật sư cho tôi hỏi thẩm quyền giải quyết vụ án của tôi là thuộc tòa nào?

Trả lời:
Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự trả lời chị như sau:
Theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết vụ án...”. Tuy nhiên, điểm c khoản 1 Điều 39 quy định “Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản...”, nhưng đây là vụ án ly hôn nên quan hệ pháp luật chính của vụ án này là quan hệ hôn nhân (nhân thân), các quan hệ khác về con, về tài sản là quan hệ phát sinh của quan hệ nhân thân. Do đó Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc là Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn. Trường hợp cụ thể này của chị, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có tranh chấp về nhà đất (bất động sản) đang ở Nha Trang - Khánh Hòa và nếu đương sự có yêu cầu thì Tòa án nhân dân thành phố Pleiku có thể ủy thác tư pháp cho Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa điều tra, xác minh.

* Quy định pháp luật: Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Luật sư Nha Trang
Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự
Quyền thừa kế của mẹ kế và các con của chồng?
Câu hỏi: 

Luật sư tư vấn giúp tôi về việc chia tài sản thừa kế sau. Bố mẹ tôi có căn nhà tại Nha Trang, Khánh Hòa. Nhà này bố mẹ tôi mua năm 1990. Năm 2001 mẹ tôi qua đời không để lại di chúc. Năm 2010, bố tôi lấy vợ (có đăng ký kết hôn). Năm 2017, bố tôi bị bệnh qua đời cũng không kịp viết di chúc. Hiện tại căn nhà này đã chuyển sang đứng tên chung 3 người gồm tôi, em gái tôi và người vợ hai của bố tôi. Luật sư cho hỏi nếu tài sản chung là căn nhà này thì 3 người chúng tôi được chia như thế nào? thủ tục gồm những gì?

Trả lời: 

Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự xin trả lời bạn như sau:

1) Về việc phân chia nhà đất.

Theo thông tin anh cung cấp thì nhà đất này đã được đăng ký sang tên 3 người là anh, em gái anh và người vợ hai của bố anh nên việc phân chia nhà đất này do ba người tự thỏa thuận và thực hiện theo quy định của pháp luật. Nếu xét về nguồn gốc tài sản, thì căn nhà là tài sản thuộc sở hữu của bố mẹ anh khi còn sống, nên khi bố mẹ anh chết, tài sản được chia cho nhưng người thừa kế theo pháp luật. Cụ thể:
 
a) Đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ anh (1/2 giá trị nhà đất)

Năm 2001, mẹ anh chết trước không để lại di chúc nên quyền sở hữu 1/2 giá trị nhà đất của mẹ anh được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự quy định tại khoản 1, Điều 651 BLDS 2015. Theo đó, những người được hưởng di sản của mẹ anh gồm: (1) Bố anh; (2) anh và (3) em gái anh (con đẻ của người để lại di sản thừa kế) và (4) những người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất (nếu có).

Nếu ngoài bố anh, anh và em gái anh không còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ anh thì mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau là 1/3 di sản do mẹ anh để lại, tức là mỗi người sẽ được hưởng 1/6 giá trị nhà đất.

b) Đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bố anh (1/2 giá trị nhà đất):

Di sản của bố anh để lại gồm: (1) 1/2 giá trị nhà đất thuộc quyền sở hữu của bố anh trong khối tài sản chung của vợ chồng;  và (2) 1/6 giá trị nhà đất là phần di sản mà bố anh được hưởng từ mẹ anh.

Tóm lại, di sản do bố anh để lại là 2/3 giá trị nhà đất. 

Người thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản do bố anh để lại gồm: (1) anh + (2) em gái anh + (3) người vợ thứ hai của bố anh và (4) những người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất (nếu có).

Nếu ngoài 3 người trên, bố anh không còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau là 1/3 di sản do bố anh để lại. 

2. Về thủ tục phân chia


Để phân chia tài sản chung là nhà đất nói trên, trước hết 3 người (anh, em gái anh, người vợ hai của bố anh) phải thỏa thuận xác định rõ phần của từng người, có thể phân chia bằng hiện vật (nếu phân chia, tách thửa được theo quy định của pháp luật) hoặc phân chia theo giá trị bằng tiền của nhà đất. Thủ tục như sau:

a) Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung:

Có thể đến bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nơi có nhà đất để yêu cầu công chứng văn bản phân chia tài sản chung (Điều 42 Luạt Công chứng 2014). Hồ sơ yêu cầu công chứng gồm các giấy tờ: (1) Phiếu yêu cầu công chứng (2) dự thảo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung (có thể nhờ Luật sư soạn thảo); (3) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng (4) Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.

Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ, tổ chức công chứng thụ lý hồ sơ và thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung theo quy định của Luật Công chứng 2014 và văn bản hướng dẫn.

b) Đăng ký sang tên quyền sở hữu tài sản:


Sau khi công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, các bên có trách nhiệm thực hiện theo những cam kết đã thỏa thuận trong văn bản. Người được hưởng quyền sở hữu nhà đất sẽ có quyền đăng ký sang tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại Văn phòng đăng ký đất đai.

Luật sư Nha Trang
Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự
Sống chung không đăng ký kết hôn có phải làm thủ tục ly hôn tại tòa án?
Câu hỏi: 

Luật sư cho tôi hỏi về viêc ly hôn và chia tài sản chung. Tôi và chồng sống với nhau từ năm 1994 đến nay tại xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chúng tôi có 1 con chung nhưng chúng tôi vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tài sản của chúng tôi gồm 1 căn nhà có giấy tờ mang tên tôi, 1 xe ô tô, một mảnh đất mua chung với người khác mang tên anh ấy nhưng thực tế đều là tài sản chung. 

Đến nay chúng tôi không ở được với nhau nữa vậy có phải ra tòa để làm thủ tục xin ly hôn hay không?  con, tài sản thì chia như thế nào? 

Trả lời:

Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự xin trả lời chị như sau:

Theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình do Quốc hội ban hành: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chống từ ngày 03/1/1987 đến 01/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/1/2003. Trong thời hạn này mà không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/1/2003 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Đối chiếu với quy định trên, anh chị sống với nhau từ năm 1994 đến nay không có đăng ký kết hôn, căn cứ theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên, anh chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con và chia tài sản chung theo Điều 15 và 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. 

Khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án sẽ áp dụng Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để tuyên bố anh chị không phải là vợ chồng. Vấn đề nuôi con, quyền lợi của các con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn, tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai vẫn thuộc về quyền sở hữu của người ấy. Tài sản chung được chia theo nguyên tắc thỏa thuận của các bên, nếu không giải quyết được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (có tính đến công sức của mỗi bên, ưu tiên đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em). 

Như vậy, những tài sản mang tên chị, tên anh ấy như nhà ở, xe ôtô... chị nói rằng là tài sản chung, nếu anh chị không thỏa thuận chia tài sản được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, anh chị phải chứng minh quyền sở hữu tài sản của mình. 

* Quy định pháp luật: Điều 14, Điều 15, Điều 16 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10. 

Luật sư Nha Trang
Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự


ĐIỀU KIỆN MỞ CỬA CHÍNH, CỬA SỔ QUAY SANG NHÀ HÀNG XÓM?
Câu hỏi:

Luật sư vui lòng tư vấn giúp tôi câu hỏi sau:

Hàng xóm của nhà tôi (nhà liền kề tại phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang) đang sửa nhà nâng thêm tầng và định mở thêm cửa sổ, nhưng vì cửa sổ trông thắng sang nhà tôi nên các con tôi không đồng ý. Xin cho biết, pháp luật có quy định về vấn đề này không? Mặt khác, nước mưa chảy từ nhà hàng xóm sang làm thấm nhà tôi. Tôi đã đề nghị họ làm đường ống thoát nước mưa nhưng họ không làm vì cho rằng việc nhà tôi bị thấm là do trần nhà tôi không xử lý chống thấm, việc này không liên quan đến họ. Xin cho biết pháp luật quy định như thế nào về hai vấn đề này? 

Trả lời: 

Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự trả lời bạn bạn như sau:

1) Về việc mở cửa sổ: Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau: 

Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng. 

Quy chuẩn xây dựng Việt Nam về việc mở cửa ra vào, cửa sổ, cửa thông hơi quy định: Từ tầng 2 trở lên không được mở cửa ra vào, cửa sổ, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh dưới 2 mét. Khi cần mở cửa phải có biện pháp tránh tầm nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh. Có thể chắn tầm nhìn hoặc bố trí so le các cửa sổ giữa hai nhà. 

Căn cứ quy định trên, nếu việc hàng xóm mở thêm cửa sổ trông thắng sang nhà của ông gây bất tiện cho sinh hoạt gia đình ông, thì các con ông không đồng ý là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. 

2) Về việc làm đường ống thoát nước: Theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa thì chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà, công trình xây dựng của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề. 

Như vậy, ông có thể áp dụng quy định nêu trên để trao đổi lại với nhà hàng xóm. 

* Căn cứ pháp luật: Khoản 1 Điều 178 và Điều 250 Bộ luật Dân sự 2015; Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01: 2008/BXD do Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 3/4/2008. 

Luật sư Nha Trang
Công ty Luật TNHH Vũ Như Hảo & Cộng sự